Home » Nonprofits & Activism » Ni Sư Liễu Pháp - Niệm Giới và Giới Luật (Phần 2) - Pháp Đàm số 23 - Ngày 17 Tháng 10, 2020

Ni Sư Liễu Pháp - Niệm Giới và Giới Luật (Phần 2) - Pháp Đàm số 23 - Ngày 17 Tháng 10, 2020

Written By Trung Tâm Thiện Đức on Monday, Oct 19, 2020 | 07:33 AM

 
Pháp Đàm 23 - NS Liễu Pháp giảng tiếp về niệm giới và giới luật, cũng như giải đáp các thắc mắc vào ngày 17 tháng 10, 2020. A) Giảng Giải 1) Các Loại Giới 9*Giới 3 loại hạ/trung/thượng: 4 yếu tố Tứ như ý túc yếu/trung bình/mạnh; ham danh/ham công đức/tôn quý giới; giới bị ô nhiễm/giới ø bị ô nhiễm/giới xuất thế; tham tái sanh/giải thoát riêng mình/GT chúng sanh 10*Giới vị kỷ/vị tha/vị pháp: tự ngã/quan tâm đến thế gian/tôn trọng pháp & luật 11*Giới dính mắc/ø dính mắc/an tịnh: tham & tà kiến/giải thoát/giới bậc thánh hữu học & vô học 12*Giới thanh tịnh/bất tịnh/khả nghi: ø phạm giới tội/phạm giới tội mà đã sám hối/ø biết việc này có phải 1 giới tội... Nên tránh làm nếu còn nghi vấn/tìm cách giải quyết nghi 13*Giới hữu học/vô học/ø hữu học ø vô học: 4 đạo & 3 quả đầu/quả A-la-hán/phàm phu 14*Giới 4 loại thối giảm/tù đọng/tăng tiến/thâm nhập 15*Giới Tỳ-kheo (227)/Tỳ-kheo ni (311)/chưa thọ cụ túc (10)/tại gia (5 hay 10 trọn đời, 8 tạm thời): 4 giới bất cộng trụ cho TK/8 giới BCT cho TKN, 13 giới Tăng tàn cho TK/17 giới TT cho TKN, 2 giới bất định cho TK/ø có giới BĐ cho TKN, 92 giới ưng đối trị cho TK/166 giới ƯĐT cho TKN 16*Giới tự nhiên (các vị Bắc câu lô châu rất thông minh hiền thiện)/cổ tục/tất yếu (ø có tư tưởng dục nhiễm...)/do nhân đời trước 17*Giới bổn/Pāṭimokkha (227 giới/Tăng, 311 giới/Ni)/phòng hộ các căn (thu thúc 6 căn)/thanh tịnh sinh mạng/liên hệ 4 vật dụng, gọi là Tứ thanh tịnh giới. +Tâm mạnh thì thân nghe theo, còn tâm yếu thì bị thân lái. Mình chỉ tránh xa chứ ø phê phán/khởi tâm bất thiện. Pháp cho mình tự do sai, chính lúc sai thì mình nhận lấy hậu quả/nhận ra cái sai & mới sửa thành đúng được. Tác ý cho đúng để ø hại mình hại người. +TK/TKN ø lui tới các hành xứ ø thích đáng, mà nên có đầy đủ hành xứ & chánh hạnh. 18*Giới thanh tịnh hữu hạn/TT vô hạn/TT đã viên mãn/TT ø dính mắc/TT đã tịnh chỉ 19*Giới từ bỏ/kiêng/tác ý (tư tâm sở)/chế ngự/không phạm 2) Niệm Giới & Sự Lợi Ích 3) Bài nói về giới của HT Viên Minh (“Sống Trong Thực Tại”/Chương 7) - Giới tự tánh/giới tuỳ nghi/giới trong sạch/giới tinh vi: Khi đức Phật chưa chế định giới luật thì các bậc Thánh vẫn có đầy đủ giới đức & giới hạnh, đó là giới hoàn hảo trong tự tánh giới định tuệ và tuỳ nghi G-Đ-T.... Trong tục đế, đức Phật đặt ra giới chế định, mà giới chế định vừa có tính xuất thế vừa có tính nhập thế. Tính xuất thế đồng nghĩa với giới tự tánh & giới tuỳ nghi. Tính nhập thế giống như kỷ cương pháp luật của 1 cộng đồng XH. Các loại giới luật khác nhau được chế định phù hợp với nhiều tính chất/tình huống/hoàn cảnh: +Do người đời chê trách +Để ngăn ngừa hành động & nói năng tai hại +Vì lợi ích đời sống tập thể +Để thoát khỏi những sai lầm bất thiện +Làm cho thanh tịnh thân khẩu +Làm nền tảng cho sự phát triển định tuệ - Giới là điều học/hành vi đạo đức/sự phòng hộ/sự thận trọng/sự tự chủ/sự thanh tịnh/sự giải thoát. B) Câu Hỏi 1) Làm nghề ø hại mình hại người, thiện pháp là chánh mạng; còn làm nghề hại mình hại người, ác pháp là tà mạng (nghề liên quan tới sát sanh/buôn bán vũ khí/chất độc/buôn người/buôn rượu/đồ tể/buôn lậu/buôn ma tuý...) Nghề chánh mạng như nghề y/nghề giáo nhưng làm việc bất thiện (lợi dụng bệnh nhân/học sinh). 2) Gợi ý là nói bóng gió là nói xa gần đề tài. Nói vòng vo là nói xoay quanh đề tài. Hiện tướng là 1 dấu hiệu = thân/lời để làm người ta cho mình vật dụng. Trong giới, đức Phật ø cho phép 1 vị tu sĩ xin cái gì mà họ ø phải là thân nhân của mình, trừ phi người đó yêu cầu rồi. 3) Người đồng tính ø được chấp nhận vào Tăng đoàn/Ni đoàn vì họ có sinh lý/tâm lý ø ổn định, nên khi họ vào thì dễ quấy rối sinh hoạt của TĐ/NĐ, mà trong TĐ/NĐ thì đời sống giới luật hay phạm hạnh rất là quan trọng. Nhưng nếu họ tu tập đúng tốt thì vẫn có thể giải thoát & đắc được đạo quả. - Nói người nam có phước hơn người nữ thì ø hẳn vậy, đó chỉ là quan niệm của người châu Á. Bên Mỹ, người nam đứng thứ 4 sau trẻ con/phụ nữ/chó mèo. Trong xã hội Á đông, người ta cho rằng người nam có phước vì đó là chế độ Nam hệ/Nam quyền. Nếu người nam sinh ra bị tàn tật yếu đuối/chậm lụt thiếu trí tuệ/nghèo nàn nhu nhược... thì có phước gì ở người nam đó. Trong kinh, ø có nói người nam có phước hơn người nữ, mà đó chỉ là quan niệm của cá nhân/xã hội nào đó. Thậm chí có quan niệm cho rằng người nữ ø thể thành Phật, mà đây là quan niệm gây nhiều tranh cãi. Phật là giác ngộ, mà GN là trên tâm. Họ nói người nữ thành A-la-hán thì được, mà thành Phật thì ø được. Cái đó có thể là quan niệm của Bà-la-môn đưa vào. Không phải tất cả những gì ghi lại trong kinh là do Phật nói. Khi đọc thì biết có đoạn nào là tư tưởng của BLM hay vị Tăng trọng nam khinh nữ. Nói trên pháp chân đế thì ø có khái niệm chúng sanh, nam nữ gì cả... mà nam hay nữ chỉ khác nhau trên sắc pháp/vật chất (sắc giới tính nam/sắc giới tính nữ), còn về mặt tâm đâu có khác. Không có tâm nào là tâm nam & tâm nào là tâm nữ. Chưa chắc người nam tu tốt hơn người nữ, mà tu hay ø là do tâm, phước hay ø là do mỗi cá nhân.